Chào mừng quý vị đến với website của thầy_Phùng Ngọc Thái

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Phùng Thái về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

CHƯƠNG I - PHẦN II: THỜI THƠ ẤU

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
Nguồn: PT
Người gửi: Phùng Ngọc Thái (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:58' 25-06-2015
Dung lượng: 58.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
THỜI THƠ ẤU
2.1
Ba cha con ông Sắc trở lại kinh đô Huế với những tên gọi mới : quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành.
Hôm vừa bước chân đến Huế, hai anh em Tất Đạt và Tất Thành theo cha đi viếng mộ mẹ và em Xin. Tất Thành cùng anh trồng lên mộ mẹ, mộ em hai cây đại.
Những ngày đầu vào Huế, chưa tìm được chỗ ở, quan Phó bảng Huy tạm gửi Tất Đạt đến ở nhờ nhà một người bạn, còn ông cùng với Tất Thành ở nhờ trong nhà ông Phạm Khắc Doãn, người xã Đức Trường, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm quan biên tu Quốc sử quán.
Sau gần bốn năm xa kinh đô Huế, nay trở lại, Nguyễn Tất Thành có nhiều ngỡ ngàng : Cầu Thành Thái (Tràng Tiền) hai đầu gục xuống dòng sông, nhịp giữa đã bị cơn bão Giáp Thìn (1904) cuốn đi. Người ở hai bên bờ sông Hương đang còn phải qua lại bằng đò ngang. Thành và anh trai đứng bên bờ Bắc ngẩn ngơ nhìn sang bờ Nam sông Hương : từng dãy, từng dãy nhà mới mọc lên nguy nga, thành một khu vực đồ sộ, được gọi là “khu nhà người Tây”. Cái khu nhà người Tây ở, tòa khâm sứ Trung Kỳ, tòa công sứ tỉnh Thừa Thiên… nổi bật lên vẻ kiêu ngạo, thách thức trước cảnh trí thơ mộng của Huế. Còn bên này sông Hương thì vẫn y nguyên một kinh thành cổ kính rêu phong…
Đi cùng với anh trai trên dọc đường thành, Nguyễn Tất Thành đang suy nghĩ về những tòa nhà hành chính của người Pháp đè lên cưng thành vua nhà Nguyễn thì lại gặp người hát dạo. Tiếng đàn, giọng ca lại gợi anh nhớ tới ông Xẩm ở quê nhà. Và, bên tai anh cứ văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ mười năm trước :
Nước Nam ta sao lại có Tây..
Trên dọc đường anh gặp người Tây nhiều gấp bao nhiêu lần so với trước…Có cả những tên Tây say vừa đi vừa gây sự với các cô bán hàng trên hè phố. Dòng sông Hương cũng đổi khác : Thuyền buôn tấp nập hơn, mà đò kỹ nữ (60) đón khách làng chơi đông cũng chẳng kém thuyền chài, thuyền buôn…
Tất Thành cảm thấy ở đất “thần kinh” này đang có một sự chuyển động âm ỉ ở bên trong, anh muốn nói ra cái điều mình đang nghĩ với anh Tất Đạt, nhưng lại sợ tính anh trầm lặng và không thích bàn bạc những việc thời thế.
Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận chức thừa biện Bộ Lễ. Tại đây, ông gặp lại quan Phó bảng Phan Chu Trinh, người bạn cùng thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Phan Chu Trinh đã đăng tờ biểu (đơn) xin cáo từ chức thừa biện Bộ Lễ. Ông đã công khai lên án bộ máy quan lại thối nát, cam tâm làm tay sai cho người khác. Ông diễn thuyết ngay trong trường Quốc tử giám và trước những thí sinh từ các miền trong nước mới về kinh đô Huế dự thi Hội khoa Giáp Thìn (1904). Ông kêu gọi những người tai mắt phải ngẩng cao đầu, đi tiên phong trong công cuộc xây dựng dân quyền, nâng cao dân trí, dân sinh… Tiếng nói của ông cùng với Lưu cầu huyết lệ tâm thư (lá thư viết bằng máu và nước mắt) của Phan Bội Châu đang gây chấn động cả kinh thành và lan rộng về các miền xa của đất nước. Nghe danh tiếng của hai nhà chí sĩ họ Phan, nhiều bậc danh nho, khoa bảng ở các nơi về Huế tiếp kiến. Từ Phan Thiết, đất cực Nam Trưng Bộ, ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội ra Huế gặp Phan Chu Trinh. Phan Bội Châu đã rời Huế vì ông không đồng quan điểm với Phan Chu Trinh. Quan nghè Trần Quý Cáp, quan nghè Huỳnh Thúc Kháng, quan đốc Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế… đều cùng quan điểm với quan Phó bảng Phan Chu Trinh. Cho nên quan đốc Cẩn, quan nghè Kế đã lập ra Triêu Dương Thư Quán ở Vinh. Ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (con trai đầu của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), hai nhà hằng tâm hằng sản tham gia tổ chức Hội Duy Tân, đã cùng các ông Nguyễn Quý Anh, Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng lập ra công ty Liên Thành thương quán và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.
Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy tham dự nhiều buổi bình văn. Ông đã để lại trong tâm trí giới sĩ phu yêu nước một câu nói nổi tiếng : Quan trường thị nô trung chi nô lệ hựu nô lệ (61). Ông Lê Văn Miến, một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc học, qua những buổi bình văn đã bắt gặp được tiếng nói tri âm ấy và đã kết bạn đồng tâm với quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy…
Từ ngày đầu đến ở nhờ, Tất Thành
 
Gửi ý kiến