Chào mừng quý vị đến với website của thầy_Phùng Ngọc Thái

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Phùng Thái về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Truyện Kiều (Đại thi hào: Nguyễn Du" >

Tr2


Hoa cười ngọc nói đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

25    Làn thu thuỷ, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai

Thông minh vốn sẵn tư trời

30    Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm

Cung, thương làu bậc Ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên xoang

Một cung bạc mệnh lại càng não nhân

35    Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm niềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Ngày xuân con én đưa thoi

40    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Chú Thích: 
Câu 21: B-T và TT12 và nhiều bản Quốc ngữ là THỐT.
Câu 25: Chữ này thường đọc là VẾT, nhưng theo BẢNG TRA CHỮ NÔM thì có cả âm NÉT nữa, âm VẾT cổ hơn nhưng không được thanh tú, vậy xin phiên âm là NÉT như B-T. Bản Phường QVĐ và CVT thì để chữ THẤP, CVT dẫn giải từ TÂY SƯƠNG KÝ câu "Xuân sơn ĐÊ thuý, thu thuỷ ngưng mâu" (sắc núi lan xuống, màu thu đọng mắt) THẤP tức là dịch chữ ĐÊ, thuyết này cũng có lý, còn NÉT trong các bản Quốc ngữ vốn không có căn cứ ở các bản Nôm cổ.
Câu 25: Câu này ẩn dụ:  ánh mắt trong như nước thu, mày xanh như vẻ xuân sơn.
Câu 27: Do câu "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc" (cố:  ngoảnh lại, liếc xem): sắc đẹp nghiêng thành nghiêng nước, cũng là cách nói người Việt ta khá quen. MỘT HAI chính là dịch chữ NHẤT CỐ, TÁI CỐ.
Câu 28: Đòi một... hoạ hai:  ý nói tài sắc vẹn toàn, hiếm có.
Câu 29: B-T:  TÍNH trời. TƯ (tư chất) là chữ chuẩn hơn TÍNH (tính nết), nhưng là chữ sách vở, TÍNH mới đúng chữ Nôm.
Câu 32: Chú ý chữ MỘT CHƯƠNG này từng là đề tài bàn luận tốn nhiều giấy mực. Nhiều người cho rằng đây là chữ Ngải Trương, tên một nhân vật giỏi đàn thời xưa, do chữ MỘT viết giản nét gần giống chữ NGẢI ().Tuy nhiên đứng trên quan điểm văn bản học mà xét thì MỘT lầm ra NGẢI do viết sót bộ thuỷ thì dễ chứ NGẢI lầm ra MỘT do chép thừa bộ thuỷ là khó. Chúng ta nên theo cái thực tế nhìn thấy (các bản Nôm đều viết chữ MỘT) chứ không theo lý luận suông dù lý luận "Ngải Trương" phải thừa nhận là rất hợp lý.
Câu 34: B-T:  một THIÊN
Câu 33: B-T, TT12 đều là NÊN CHƯƠNG, tức là nên bài hay, B-T còn chú rõ là các bản cũ đều để là CHƯƠNG.
Câu 37: B-T:  êm ĐỀM, chữ NIỀM thật gốc ở các bản Nôm, còn ĐỀM do các bản Quốc ngữ sửa ra vậy.
Câu 38: Tường đông:  đông lân, chỉ nhà hàng xóm, câu này ý nói Kiều chưa vướng đường tình.
Câu 40: Thiều quang:  ánh sáng đẹp tức là nắng xuân, mùa xuân ba tháng có chín mươi ngày vậy ngoài sáu mươi là tháng Ba.

Nhắn tin cho tác giả
Phùng Ngọc Thái @ 11:22 29/02/2016
Số lượt xem: 167
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến